Giá xe Jupiter 2018 bao nhiêu? Đánh giá ưu nhược điểm Yamaha Jupiter Fi 2018

Giá xe Jupiter 2018 bao nhiêu? Thông số kỹ thuật và ưu nhược điểm Yamaha Jupiter: Yamaha Jupiter 2018 sở hữu động cơ 4 thì SOHC, 2 van, xy-lanh đơn, 115cc, phun xăng điện tử, làm mát bằng không khí; công suất tối đa đạt 7.4 kW tại 7.000 vòng/ phút. 

Yamaha Jupiter Fi 2018 giá bao nhiêu?

Jupiter FI 2018 sử dụng công nghệ phun xăng điện tử được bán ra thị trường từ ngày 4/11. Phiên bản mới sẽ được thay đổi tem mới và giữ nguyên giá bán cũ. Mẫu xe Jupiter FI 2017 có hai phiên bản là Jupiter Fi RC và Jupiter Fi GP. Cả 2 phiên bản vừa được ra mắt này được thay đổi tem xe hoàn toàn mới với thiết kế cá tính, bắt mắt hơn, mang đậm DNA thể thao. Giá xe Jupite 2018 bao nhiêu? Đánh giá ưu nhược điểm Yamaha Jupiter Fi 2018 1 Các phiên bản xe Yamaha Jupiter FI vẫn có giá bán giữ nguyên so với trước. Cụ thể, Jupiter FI RC 2018 phiên bản màu đen đỏ, trắng đen, đen xám có giá 29,4 triệu đồng. Trong khi đó, phiên bản Jupiter FI GP màu xanh đen có giá 30 triệu đồng.

Thông số kỹ thuật Jupiter 2018

Thông số kỹ thuật Jupiter 2018
Kích thước (dài x rộng x cao) 1.935mm x 680mm x 1.065mm
Độ cao yên xe 765mm
Khoảng cách giữa 2 trục bánh xe 1.240mm
Độ cao gầm xe 125mm
Trọng lượng ướt 104kg
Loại khung Ống thép - Cấu trúc kim cương
Phanh trước Đĩa thủy lực
Kích thước bánh trước / bánh sau 70/90-17MC 38P / 80/90 - 17MC 44P
Giảm xóc trước Phuộc nhún, giảm chấn dầu
Giảm xóc sau Giảm chấn dầu - Lò xo
Đèn trước Halogen 12V 35W / 35W x 1
Yamaha Jupiter 2018 sở hữu động cơ 4 thì SOHC, 2 van, xy-lanh đơn, 115cc, phun xăng điện tử, làm mát bằng không khí; công suất tối đa đạt 7.4 kW tại 7.000 vòng/ phút. Mô men xoắn cực đại đạt 9.9 N.m tại 6.500 vòng/ phút. Jupiter FI hoạt động linh hoạt với tay lái nhẹ, xoay sở tiện lợi, phù hợp di chuyển trên mọi loại địa hình. Ngoài ra, cốp xe rộng rãi có thể chứa được một mũ bảo hiểm nửa đầu và một số vật dụng cá nhân khác.

Đánh giá ưu nhược điểm Yamaha Jupiter Fi 2018

Trái với các dòng xe trước, được sử dụng cho hệ thống treo động cơ giảm chấn bằng cao su, Jupiter FI đã thay thế cao su bằng hệ thống gắn kết cứng, nhằm tối ưu hóa công suất động cơ làm tăng thêm sức mạnh của xe. Hơn nữa, càng sau cũng đã được bỏ đi phần ống ngang, đồng thời độ cứng của bề mặt trên và dưới của càng sau cũng được điều chỉnh, đảm bảo độ cứng cao hơn so với các mẫu xe “Jupiter phiên bản cũ”. Hiệu quả tổng hợp từ những cải tiến này đã mang lại tính ổn đinh cao khi vận hành. Xi-lanh đúc kiểu ống gai là công nghệ lần đầu tiên được áp dụng cho dòng xe máy Yamaha tại thị trường Đông Nam Á. Mặt ngoài của lòng xi-lanh được cấu tạo dạng gia không chỉ tăng diện tích bề mặt tiếp xúc giữa lòng xi-lanh và thân xi-lanh mà còn tăng độ độ chính xác cao do hợp kim nhôm kết đặc lại bao quanh các chỗ lồi lõm ở mặt ngoài của lòng xi-lanh trong khi đúc giúp tăng cường khả năng tản nhiệt và nâng cao tính ổn định cho động cơ. Hệ thống hiển thị trên đồng hồ công-tơ-mét thiết kế hoàn toàn mới với ứng dụng hệ thống chiếu sáng bằng đèn LED với hiệu ứng. Ngoài ra, công tơ mét còn được trang bị đèn cảnh báo mức nhiên liệu và có chức năng báo lỗi động cho người điều khiển. Yên sau được thiết lại có kích thước thon gọn vừa đảm bảo cảm giác ngồi thoải mái vừa mang lại hình ảnh gọn nhẹ cho phần đuôi xe. Để đảm bảo tính thời trang cho tổng thể ngoại hình của chiếc xe, Yamaha đã thiết kế chắn bùn sau của Jupiter khá cao. Tiết diện của tấm chắn bùn nhỏ, góc cạnh và thuôn nhọn xuống phía dưới khiến nhiệm vụ của nó mang tính hình thức nhiều hơn là chắn bẩn bắn lên từ lốp xe khi vận hành. Nhược điểm này cũng làm người lái xe khác đi sau chiếc xe này cảm thấy khó chịu khi vận hành dưới trời mưa, bẩn vì nước văng cao ra phía sau từ lốp xe. Cần đạp số của xe được bố trí chưa thực sự hợp lý. Nó được đặt chúi về phía trước nên khi người điều khiển muốn vào số phải dúi chân sâu hơn. Mỗi lần lên số khá bất tiện. Ngược lại, cần trả số lại quá cao nên khi về số, người lái lại phải nhấc gót lên để thao tác. Một là, khi tăng tốc từ 80km/h trở lên thì xe bắt đầu cho thấy một vài điểm không mong muốn, tính ổn định của xe bắt đầu giảm và không còn cho cảm giác lái an toàn như dưới 60km/h. Trọng lượng nhẹ không đủ để giữ cho chiếc xe được đầm khi đi với vận tốc cao, cho nên ở vận tốc này, xe bắt đầu chuyển sang “chế độ” bồng bềnh và làm cho người lái cảm thấy chùn tay ga.
Cập nhật: 08:51 07/11/2017 Theo ...

Theo dõi cộng đồng trên facebook